• EN EN
  • VI VI
  • JP JP
  • KR KR
  • Русский Русский
Xúc tiến thương mại

Chúng tôi đồng hành cùng bạn trên con đường hoạch định tương lai sự nghiệp của bạn. Chúng tôi đã thiết kế ngân hàng các khoá học giúp bạn lựa chọn khoá học phù hợp với năng lực, sở thích, ước mơ nghề nghiệp và tài chính. Các khoá học phù hợp với mọi đối tượng, chuyên ngành và mục tiêu thành đạt.

Hiệp Định Đối Tác Chiến Lược Châu Á - Thái Bình Dương (TPP)

Ngày 05 tháng 10 năm 2015, Bộ trưởng 12 nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã tuyên bố kết thúc đàm phán. Kết quả đàm phán là một hiệp định chất lượng cao, tham vọng, sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; hỗ trợ tạo ra và duy trì việc làm; thúc đẩy đổi mới, năng suất và tính cạnh tranh; nâng cao mức sống, giảm nghèo; nâng cao minh bạch hóa, trình độ quản trị; bảo hộ lao động và bảo vệ môi trường. Hiệp đinh TPP bao gồm các quy định và cam kết thương mại truyền thống và phi truyền thống. Không chỉ có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực thương mại mà còn đòi hỏi sự thay đổi trên nhiều mặt.

CÁC CƠ HỘI

Về mặt kinh tế, Việt Nam được đánh giá sẽ đạt được các lợi  ích lớn và lợi ích “cốt lõi” khi tham gia vào TPP.

Tham gia TPP sẽ thúc đẩy Việt Nam hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế.

CÁC THÁCH THỨC

Việt Nam là nước có thu nhập trung bình và trình độ nền kinh tế phát triển ở mức thấp nhất trong 12 nước thành viên TPP, hơn 90% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chất lượng nguồn nhân lực thấp; thể chế nền kinh tế và thực thi pháp luật còn nhiều bất cập; năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, sản phẩm và doanh nghiệp còn yếu kém.

Việt Nam được chấp nhận mở cửa theo lộ trình đối với nhiều lĩnh vực, nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn sẽ mất thị phần thị trường hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, mua sắm chính phủ, phải chia sẻ lợi ích cho các doanh nghiệp nước ngoài, làm giảm việc làm, khả năng doanh nghiệp bị phá sản, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và nảy sinh các hệ lụy về chính trị, văn hóa và xã hội.

Doanh nghiệp FDI trong ngành may mặc, da giày được hưởng lợi nhiều hơn hơn các doanh nghiệp trong nước vì các thế mạnh về vốn, công nghệ và tham gia chuỗi cung ứng trên phạm vi toàn cầu.

#1. PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI trong Hiệp định TPP

1. KHÁI QUÁT VỀ PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI

Chương Phòng vệ thương mại thúc đẩy minh bạch hóa và quy trình thủ tục trong các vụ kiện phòng vệ thương mại thông qua việc công nhận các thực tiễn tốt nhất nhưng không ảnh hưởng đến các quyền và nghĩa vụ của các thành viên TPP trong WTO.

Hiệp định TPP thiết lập các “Cơ chế tự vệ trong thời gian chuyển đổi”, cho phép một nước thành viên áp dụng biện pháp tự vệ trong thời gian chuyển đổi (tự do hóa thương mại) nếu lượng nhập khẩu gia tăng đột biến gây thiệt hại nghiêm trọng với ngành sản xuất trong nước.

Các biện pháp tự vệ này được áp dụng trong thời gian 02 năm và trong trường hợp cần thiết có thể được gia hạn thêm 01 năm.

Quy định về biện pháp tự vệ trong thời gian chuyển đổi trong Hiệp định TPP được xây dựng chặt chẽ hơn WTO, hạn chế việc lạm dụng, đảm bảo sự minh bạch thông qua việc cho phép các bên liên quan được tiếp cận các tài liệu cần thiết, đồng thời được thông báo trước khi biện pháp tự vệ được áp dụng và tham vấn sau khi biện pháp này được áp dụng.

Đối với các quy định về “chống bán phá giá và chống trợ cấp”, các nước thành viên TPP phải tuân thủ các quy định nêu trong Hiệp định Chống bán phá giá và Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO. Ngoài ra, các nước thống nhất Phụ lục về thông lệ tốt nhất (best practices) liên quan đến thủ tục áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp.

2. TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Thứ nhất, Việt Nam cũng như các nước thành viên TPP đều đảm bảo có được cơ chế phòng vệ thương mại hợp lý đối với các ngành sản xuất trong nước chưa đủ sức cạnh tranh kháng cự lại hàng nhập khẩu.

Thứ hai, hàng  hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với hàng rào phòng vệ của các nước đối tác. Tuy nhiên, việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan cũng đã tạo những thuận lợi rất lớn cho hàng hóa của Việt Nam đến các nước. (Bên cạnh đó, cơ cấu sản xuất của các 12 nước tham gia TPP không theo hướng “cạnh tranh lẫn nhau” mà đa phần theo hướng “bổ sung lẫn nhau”, nên vấn đề phòng vệ thương mại cũng có thế không đến mức gay gắt – EAS Việt Nam).

Thứ ba, việc tham gia TPP ở khía cạnh này giúp Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam và quốc tế trong lĩnh vực phòng vệ thương mại. Từ đó, nâng cao khả năng thực thi của các cơ quan chức năng có liên quan trong các vụ việc phòng vệ thương mại trong tương lai. 

#2. QUY TẮC XUẤT XỨ trong Hiệp định TPP

Để gỡ rối tình trạng “bát mỳ ống” của quy tắc xuất xứ gây trở ngại cho doanh nghiệp trong việc tận dụng các FTA trước đó trong khu vực, thúc đẩy chuỗi cung ứng khu vực và bảo đảm rằng các nước TPP sẽ là những người hưởng lợi chính của Hiệp định hơn là các nước không phải là thành viên, 12 nước thành viên TPP đã thống nhất về một bộ quy tắc xuất xứ chung để xác định một hàng hóa cụ thể “có xuất xứ” và do vậy được hưởng thuế quan ưu đãi trong TPP. Quy tắc xuất xứ cụ thể theo mặt hàng được quy định kèm theo lời văn của Hiệp định. Hiệp định TPP quy định về “cộng gộp” để các nguyên liệu đầu vào từ một bên TPP được đối xử như những nguyên liệu từ một bên khác nếu được sử dụng để sản xuất ra một sản phẩm tại bất kỳ một bên TPP. Các bên tham gia TPP cũng đưa ra các quy tắc để bảo đảm rằng doanh nghiệp có thể hoạt động một cách dễ dàng xuyên khu vực TPP thông qua việc thiết lập một hệ thống chung trên toàn TPP về chứng minh và kiểm tra xuất xứ của hàng hóa TPP. Các nhà nhập khẩu sẽ có thể yêu cầu được hưởng ưu đãi về xuất xứ với điều kiện họ có các chứng từ chứng minh. Ngoài ra, Chương này cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền công cụ cần thiết để xác minh các yêu cầu về hưởng ưu đãi một cách có hiệu quả.

1. VỀ THỦ TỤC CHỨNG NHẬN XUẤT XỨ

- Cho phép người xuất khẩu, người sản xuất và người nhập khẩu được tự chứng nhận xuất xứ.

- Do tự chứng nhận xuất xứ còn mới mẻ nên nên tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý từng bước tiếp cận với cơ chế mới, tận dụng lợi thế của FTA nên:

Đối với hàng nhập khẩu, Việt Nam và một số nước bảo lưu chỉ áp dụng hình thức nhà nhập khẩu tự chứng nhận xuất xứ sau 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

Đối với hàng xuất khẩu, có thể áp dụng song song 2 hình thức sau trong thời gian tối đa là 10 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với Việt Nam: (a) cấp chứng nhận xuất xứ (C/O) theo kiểu truyền thống và (b) người xuất khẩu đủ điều kiện tự chứng nhận xuất xứ. Sau thời gian 10 năm này, sẽ áp dụng chứng nhận xuất xứ hoàn toàn như các nước.

2. VỀ QUY TẮC XUẤT XỨ CỤ THỂ MỘT SỐ MẶT HÀNG

- Mặt hàng hóa chất, xăng dầu ngoài quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa có thêm lựa chọn áp dụng quy tắc khác như: phản ứng hóa học, tách đồng phân, thay đổi kích hạt, nguyên vật liệu tiêu chuẩn,…

- Giày dép: quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa khá linh hoạt, cho phép sử dụng không giới hạn nguyên phụ liệu nằm ngoài Chương 64 (giầy dép) nhập khẩu bên ngoài TPP để sản xuất giày xuất khẩu.

- Đối với nhóm mặt hàng nông lâm thủy sản:

     + Đối với hàng thủy sản: cho phép sử dụng con giống nhập khẩu bên ngoài TPP. (Ngoài ra còn có quy tắc cho một số mặt hàng cụ thể như cá ngừ, tôm cua, cà phê, chè, hạt điều,…)

     + Hiệp định cũng đưa ra quy tắc xuất xứ với ô tô và phụ tùng ô tô.

#3. VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG trong Hiệp định TPP

TPP không đưa ra tiêu chuẩn riêng về Lao động mà chỉ khẳng định lại các tiêu chuẩn được nêu trong Tuyên bố 1998 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về Những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động.

1. CÁC TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG CỦA ILO ĐƯỢC ÁP DỤNG TẠI TPP

#1: Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động (theo Công ước số 87 và số 98 của ILO).

#2: Xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc (Theo Công ước số 29 và số 105 của ILO).

#3: Cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (theo Công ước số 138 và Công ước số 182 của ILO).

#4: Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp (theo Công ước số 100 và số 111 của ILO).

Việt Nam đã chủ động phê chuẩn 5 công ước cơ bản của ILO bao gồm các công ước số 29, 100, 111, 138 và 182. Với 3 công ước số 87, số 98 và 105 Việt Nam đang tiến hành nghiên cứu và chuẩn bị đệ trình cơ quan thẩm quyền phê chuẩn. Theo tuyên bố của ILO, các nước thành viên dù phê chuẩn hay chưa đều có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện 4 tiêu chuẩn lao động được đề cập trong công ước đó.

2. NỘI DUNG CHÍNH  VỀ LAO ĐỘNG TRONG HIỆP ĐỊNH

- Để tương thích với các tiêu chuẩn của ILO và cam kết TPP, Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục hoàn thiện luật pháp và các cơ chế liên pháp như: áp dụng chế tài hình sự đối với hành vi sử dụng lao động cưỡng bức hoặc lao động bắt buộc; cấm phân biệt đối xử về mọi khía cạnh của việc làm và nghề nghiệp; bảo đảm quyền tiếp cận việc làm bình đẳng của phụ nữ, bãi bỏ quy định cấm phụ nữ tham gia vào một số ngành nghề, công việc cụ thể.

- Đối với cam kết về đảm bảo điều kiện lao động liên quan đến lương tối thiểu, giờ làm việc và an toàn lao động, hệ thống luật pháp của Việt Nam về cơ bản đã có quy định đầy đủ.

- Về quyền thành lập tổ chức đại diện của người lao động, Việt Nam và các nước TPP phải tôn trọng và đảm bảo. Tổ chức của người lao động tại cơ sở có thể lựa chọn gia nhập Tổng Liên đoàn lao động Việt Năm hoặc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được chính thức hoạt động và sẽ chỉ được hoạt động sau khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận đăng ký theo một quy trình minh bạch và được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật.

- Tổ chức đại diện người lao động thực hiện bảo vệ người lao động phải thông qua các hình thức tương tác được quy định trong pháp luật bao gồm đối thoại, thương lượng tập thể, đình công và các hành động tập thể khác trong quan hệ lao động. Các tổ chức này không được phép tiến hành bất cứ hoạt động nào có khả năng xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

- Các tổ chức đại diện lao động cấp cơ sở tại Việt Nam có quyền thành lập liên hiệp cấp cao hơn như cấp ngành, cấp vùng sau thời hạn 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực (tương đương khoảng 7 năm kể từ ngày ký Hiệp định). Các tổ chức cấp cao hơn cũng phải thực hiện đúng các quy định của Pháp luật nước sở tại. Thời hạn 5 năm là để Việt Nam hoàn thiện hệ thống luật pháp về vấn đề này.

3. CÁC BƯỚC TRIỂN KHAI TIẾP THEO

Hiệp định TPP, trong đó có nội dung về lao động, cần được các nước thông qua theo quy trình phê chuẩn Hiệp định riêng của mỗi nước. Thời gian khoảng 2 năm để phê chuẩn Hiệp định là khoảng thời gian để tất cả các nước tham gia chuẩn bị các điều kiện cần thiết để Hiệp định có thể được thực thi hiệu quả. Riêng Việt Nam sẽ có thêm một khoảng thời gian là 5 năm đối với một số nghĩa vụ cần có sự chuẩn bị chu đáo.

#4. DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC trong Hiệp định TPP

Mục tiêu chính của các thành viên TPP khi xây dựng bộ quy tắc mới  về Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong khu vực thương mại tự do, đồng thời các thành viên cũng thừa nhận do sự đa dạng về lịch sử, chính trị và kinh tế nên tại một số nước thành viên, đặc biệt là các nước đang phát triển, khu vực DNNN đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chính cách công, ổng định kinh tế  vĩ mô và bảo đảm an ninh – quốc phòng.

A, Phạm vi điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh: các doanh nghiệp do chính phủ trung ương sở hữu hoặc kiểm soát chủ yếu tham gia hoạt động kinh doanh, có cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường và có quy mô tương đối có ý nghĩa (xác định theo doanh thu trong 3 năm gần nhất).

Đối tượng KHÔNG nằm trong phạm vi điều chỉnh:

(i)Hoạt động của Ngân Hàng Trung Ương, các cơ quan giám sát và quản lí tài chính, tiền tệ

(ii) Các quỹ đầu tư vốn nhà nước

(iii) Hoạt động mua sắm của chính phủ

(iv) Hoạt động tín dụng xuất khẩu của DNNN

(v) các lĩnh vựa loại trừ đã được đưa ra trong các Chương khác của Hiệp định (Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ tài chính).

Các nước được quyền áp dụng bất kỳ biện pháp nào cần thiết mà không bị coi là vi phạm nghĩa vụ Hiệp định trong việc: Thực hiện các biện pháp an ninh quốc gia (ngoại lệ an ninh); Ứng phó với tình trạng khẩn cấp tạm thời về kinh tế; DNNN với chức năng thuần túy là cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho Nhà nước để thực hiện các chức năng của Nhà nước.

B, Nghĩa vụ chính đối với các DNNN

B1, DNNN phải hoạt động dựa trên tính toán thương mại thuần túy.

Tóm tắt: Ngoại trừ trường hợp DNNN thực hiện nhiệm vụ công ích hoặc được Nhà nước chỉ định độc quyền trên một thị trường nhất định, DNNN phải ra quyết định dựa trên “tính toán thương mại”, có nghĩa là phải dựa trên các tiêu chí mang tính thương mại như: giá cả, chất lượng, khả năng cung ứng, tiếp thị, vận tải,… hoặc những yếu tố khác tương tự như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác ra quyết định kinh doanh.

Đây là nghĩa vụ cơ bản đã cam kết khi gia nhập WTO

B2, DNNN không được phân biệt đối xử khi mua bán hàng hóa, dịch vụ

Tóm tắt: DNNN không được phân biệt đối xử khi mua bán hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp từ một thành viên TPP khác cung cấp. Doanh nghiệp được chỉ định độc quyền không được phân biệt đối xử khu mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan do doanh nghiệp từ một thành viên TPP khác cung cấp.

B3, DNNN phải tuân thủ các nghĩa vụ của Hiệp định khi được chính phủ ủy quyền

Tóm tắt: Khi Chính phủ giao hoặc ủy quyền cho DNNN thực hiện một số nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của Chính phủ như quyền trưng thu, cấp hoặc thu hồi giấy phép, phê duyệt giao dịch thương mại, ấn định hạn ngạch, phí và lệ phí,… thì DNNN đó phải tuân thủ toàn bộ các cam kết của Chính phủ trong Hiệp định TPP

B4, Chính phủ không hỗ trợ quá mức cho DNNN để gây ra tác động tiêu cực trong cạnh tranh.

Tóm tắt: Chính phủ không được trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua DNNN) cung cấp dành riêng cho DNNN các khoản “hỗ trợ phi thương mại” lớn tới mức gây tác động bất lợi tới lợi ích của một nước thành viên TPP khác.

B5, Cấm hành vi phản cạnh tranh của doanh nghiệp được chỉ định độc quyền

Tóm tắt: DNNN khi được chỉ định độc quyền không được trực tiếp hay gián tiếp lợi dụng vị trí đó để gây ra hành vi hạn chế cạnh tranh trên một thị trường khác mà doanh nghiệp có tham gia kinh doanh và cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, gây tác động bất lợi đến một nước thành viên TPP khác.

B6, Cơ quan quản lý nhà nước phải hành xử công bằng trong quản lý, điều hành

Tóm tắt: Trong quản lý, điều hành, cơ quan quản lý Nhà nước không được tạo ra sự phân biệt đối xử giữa DNNN và doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác.

B7, Tòa án và cơ quan hành chính

Tóm tắt: Các nước thành viên phải cho phép toàn án nước mình thụ lý và xử lý đối với các vụ kiện dân sự chống lại DNNN nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ nước mình.

B8, Minh bạch hóa các thông tin cơ bản về DNNN

Tóm tắt: Các nước thành viên Hiệp định TPP đều phải công bố hoặc thông báo cho các nước thành viên khác danh sách các DNNN thuộc diện điều chỉnh của Hiệp định hoặc khi chỉ đinh doanh nghiệp độc quyền trên một thị trường nhất định.

Khi có quan ngại xác đáng về hoạt động của một DNNN có khả năng gây tác động đến thương mại và đầu tư giữa  các nước thành viên, một nước thành viên có thể đề nghị cung cấp các thông tin cơ bản về DNNN đó (tỷ lệ sở hữu nhà nước, tổng doanh thu, tổng tài sản, các báo cáo tài chính đã được công bố, các miễn trừ áp dụng luật) hoặc các thông tin về chương trình hỗ trợ phi thương mại của Chính phủ.

#5. CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH trong Hiệp định TPP

1. NỘI DUNG CAM KẾT VỀ CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH

Chương Chính sách cạnh tranh (CSCT) trong Hiệp định TPP gồm 9 điều:

- Luật và các cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh và hành vi kinh doanh phản cạnh tranh

- Thủ tục công bằng trong thực thi pháp luật cạnh tranh

- Quyền khởi kiện cá nhân

- Hợp tác

- Hỗ trợ kỹ thuật

- Bảo vệ người tiêu dùng

- Minh bạch hóa

- Tham vấn

- Điều khoản về việc không áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp

Mục tiêu của Chương này là hướng đến việc tạo lập và đảm bảo khuôn khổ cạnh tranh bình đẳng trong khu vực thương mại tự do, ngăn chặn và loại bỏ các hành vi kinh doanh phản cạnh tranh trên thị trường, thúc đẩy hiệu quả kinh tế và phúc lợi người tiêu dùng.

Do đó, các nước thành viên có nghĩa vụ áp dụng luật cạnh tranh đối với tất cả các hoạt động thương mại trên lãnh thổ nước mình, dựa trên nguyên tắc minh bạch, công bằng trong thủ tục tố tụng và không phân biệt đối xử. Tuy nhiên, các thành viên TPP có thể cho phép một số trường hợp miễn trừ trong quá trình áp dụng luật cạnh tranh quốc gia khu thực hiện mục tiêu chính sách hoặc vì lợi ích công.

Hiệp định cho phép doanh nghiệp có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan cạnh tranh tiến hành điều tra nhằm ngăn chặn hoặc khắc phục hành vi vi phạm luật cạnh tranh quốc gia. Đây là điểm mới so với các Hiệp định thương mại tự do trước đây, là yếu tố bổ sung cần thiết để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh không bị ảnh hưởng tiêu cực do hành vi phản cạnh tranh trên thị trường.

Các thành viên TPP cũng cam kết sẽ cho phép các cơ quan cạnh tranh xem xét ký kết các thỏa thuận hợp tác chuyên môn phù hợp. Các nội dung hợp tác bao gồm trao đổi thông tin, thông báo và tham vấn về các vấn đề thực thi luật cạnh tranh. Bên cạnh đó, các nước cũng sẵn sàng tham gia hỗ trợ kỹ thuật nhằm chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình xây dựng, thực thi luật và chính sách cạnh tranh.

2. TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Điều khoản về Chính sách cạnh tranh không chỉ là yếu tố nền tảng trong TPP mà còn trong tất cả các Hiệp định thương mại mà Việt Nam đàm phán và ký kết trong thời gian gần đây.

Thứ nhất, các cam kết sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về cạnh tranh tại Việt Nam, từ đó thu hút, thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bao gồm các FDI, kinh doanh tại Việt Nam. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam cũng được đảm bảo cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và không phân biệt đối xử khi tham gia thị trường các nước thành viên TPP khác.

Thứ hai, các cam kết về luật và chính sách cạnh tranh giúp cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam hình thành và thấm nhuần văn hóa cạnh tranh, nâng cao nhận thức về cạnh tranh lành mạnh và có ý thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ ba, các cam kết tạo điều kiện nâng cao trình độ và năng lực của cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam thông qua cơ chế hợp tác, trao đổi thông tin, tham vấn, hỗ trợ kỹ thuật về những vấn đề liên quan đến cạnh tranh giữa các nước thành viên trong quá trình thực thi cam kết. Tuy nhiên, các cơ quan thực thi pháp luật của Việt Nam cũng sẽ đối mặt với nhiều vụ việc cạnh tranh có tính chất phức tạp, hành vi phản cạnh tranh đan dạng và tinh vi hơn trong bố cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng trong thời gian tới.

#6. VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG trong Hiệp định TPP

Trong Chương Môi trường của Hiệp định, nhiều lĩnh vực và vấn đề môi trường có liên quan đến thương mại đã được đưa vào thành những nghĩa vụ cam kết mang tính chất rang buộc và bắt buộc các nước thành viên phải thực thi thông qua việc sử dụng công cụ về kinh tế.

Chương này cũng có những điều khoản nhằm tăng tính minh bạch và tính nghiêm túc trong việc thực thi các nghĩa vụ của Chương, cụ thể là nghĩa vụ phải tạo điều kiện cho công chúng tham gia trong quá trình thực hiện; nghĩa vụ về chia sẻ và công khai thông tin liên quan đến việc thực hiện và nghĩa vụ khuyến khích, cho phép công chúng được tham gia giám sát quá trình thực thi các cam kết về môi trường.

CÁC CAM KẾT VÀ NGHĨA VỤ CHÍNH

A, Về chính sách và pháp luật trong nước về môi trường

- Xây dựng chính sách và pháp luật: mỗi bên phải cố gắng đảm bảo đầy đủ luật pháp và chính sách môi trường, khuyến khích việc bảo vệ môi trường ở mức cao và tiếp tục nâng cao các mức độ bảo vệ môi trường.

- Thực thi chính sách và pháp luật: mỗi bên phải  thực thi hiệu quả và nghiêm túc pháp luật về môi trường mà không ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư giữa các bên. Đồng thời không được phép bỏ qua hay giảm nhẹ hiệu lực pháp lý của các đạo luật và quy định môi trường nhằm khuyến khích thương mại hay đầu tư giữa các bên.

B, Về các cam kết quốc tế về môi trường

- Khẳng định thực thi hiệu quả các cam kết trong các hiệp định đa phương về môi trường mà mình tham gia.

- Nhấn mạnh nghĩa vụ thực thi 03 điều ước quốc tế về môi trường là: Nghị định thư MONTREAL về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn; Công ước quốc tế về ngăn ngừa ôn nhiễm từ tàu biển (Công ước MARPOL) và Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã đang bị đe dọa (Công ước CITES).

C, Về tăng cường tính minh bạch và hiệu quả thực hiện

- Công khai hóa thông tin, tăng cường sự tham gia và giám sát của công chúng trong quá trình thực thi

- Khuyến khích sự tham gia của khối tư nhân trong việc bảo về môi trường.

D, Về một số lĩnh vực cụ thể liên quan đến môi trường.

Chương Môi trường đưa ra những nghĩa vụ cụ thể với một số lĩnh vực liên quan đến tài nguyên và môi trường bao gồm: đa dạng sinh học, sinh vật ngoại lai xâm lấn, biến đổi khí hậu, đánh bắt hải sản, bảo tồn và hàng hóa, dịch vụ môi trường.

Ý NGHĨA CỦA CHƯƠNG MÔI TRƯỜNG VỚI VIỆT NAM

Phát huy tính tương hỗ giữa các chính sách về thương mại và chính sách về môi trường, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Các cam kết ở mức cao mang tính ràng buộc của Chương Môi trường sẽ là cơ sở cho Việt Nam nghiên cứu, đề xuất và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến môi trường

Tạo sức ép tích cực trong thực thi nghiêm túc và hiệu quả các chính sách, pháp luật trong nước cũng như các cam kết quốc tế về môi trường của mọi thành phần và đối tượng trong xã hội (nhà nước và người dân)

Doanh nghiệp và người dân nhận thức tốt hơn về tầm quan trọng, lợi ích và cả những hậu quả/ rủi ro trong việc thực thi nghĩa vụ bảo vệ môi trường có liên quan đến các hoạt động thương mại của mình.

Việc thực thi các nghĩa vụ của Chương Môi trường nâng cao uy tính và hình ảnh của Việt Nam nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng về trách nhiệm bảo vệ môi trường  trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là việc đảm bảo các yêu cầu, tiêu chuẩn về môi trường đối với các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam. Qua đó sẽ góp phần thúc đẩy mở rộng thị trường, tăng cường hợp tác thương mại giữa Việt Nam và các nước trong và ngoài TPP.

Nguồn: Cổng thông tin Điện tử Bộ Công Thương.

Báo điện tử Chính phủ.

Tại EAS Việt Nam, chúng tôi luôn cố gắng thiết kế các khóa học sao cho ưu việt nhất để giới thiệu tới các bạn và công khai các thông tin liên quan tới các khóa học trên website. Chúng tôi không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy và cập nhật học thuật để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động và hoạt động nghề nghiệp theo chuẩn nhân lực cấp cao quốc tế EAS-IHHRM G23.0. Chúng tôi cũng sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu về khóa học theo từng đơn vị, cá nhân với mức học phí cạnh tranh nhất.
Các thông tin về học phí, địa điểm, chất lượng và các thông tin có liên quan các bạn có thể xem trực tiếp trên website hoặc liên hệ với chúng tôi qua số máy: 0246 656 9157.